Thứ Hai, 29 tháng 8, 2016

Thuốc: Cây Mảnh Cộng hay Cây Bìm Bịp là gì?

Đông y cho rằng, mảnh cộng có vị ngọt, tính bình, có tác dụng thanh can (mát gan), lợi đảm (tăng tiết mật), khử ứ, tiêu thũng, chỉ thống (chống đau), hạ sốt, chống viêm, điều kinh
Thuốc:  Cây Mảnh Cộng hay Cây Bìm Bịp là gì?(Tam su gia dinh)

Cây mảnh cộng tùy theo địa phương còn gọi là cây cộng cộng hay cây bìm bịp (sở dĩ có tên bìm bịp vì khi bìm bịp con mới nở, người ta bẻ gãy chân, thì thấy chim mẹ cắn lá cây này về đắp cho chim con lành xương nên có tên gọi như trên) hoặc cây xương khỉ… Tên khoa học Clinacanthus nutans (Burm.f.) Lindau. Thuộc họ Ô rô Acanthaceae. Cây có nguồn gốc châu Á nhiệt đới, mọc hoang và được trồng nhiều nơi ở Việt Nam làm thuốc hoặc lấy lá hấp bánh, đồ xôi để có mùi thơm riêng biệt.  Đông y cho rằng, mảnh cộng có vị ngọt, tính bình, có tác dụng thanh can (mát gan), lợi đảm (tăng tiết mật), khử ứ, tiêu thũng, chỉ thống (chống đau), hạ sốt, chống viêm, điều kinh. Nhân dân thường dùng lá thân tươi của cây giã nát đắp vào mắt chữa sưng đau, đắp vết thương, cầm máu, bong gân, gãy xương kín… Được sử dụng để hỗ trợ điều trị viêm gan vàng da, giảm tiết mật, đau nhức do phong thấp, gãy xương,… Ngoài ra còn dùng để nấu canh ăn cho mát, lá khô được dùng để ướp bánh (bánh mảnh cộng). Bộ phận dùng làm thuốc là toàn cây thu hái quanh năm, dùng tươi hoặc phơi khô để dành.
Sau đây xin giới thiệu một số cách trị bệnh từ cây mảnh cộng. 
* Trị trẻ em, người lớn bị lở miệng: Lấy lá mảnh cộng tươi rửa sạch giã nát thêm ít nước, lược lấy nước ngậm từ từ rồi nuốt. Liều dùng 20 – 60g/ngày. 
* Trị các khớp sưng đau: Toàn cây mảnh cộng 30g, rễ và thân cây gối hạc 20g, toàn cây trâu cổ 20g, chùm gởi cây dâu tằm 20g. Nấu với 1.200ml nước, còn 300ml chia 3 lần uống sau bữa ăn. Uống liên tục 5 – 15 ngày. 
* Thoái hóa cột sống, gai cột sống, đau nhức lưng: Lá cây mảnh cộng tươi 80g, lá cây thuốc cứu tươi 50g, củ sâm đại hành tươi 50g, giã nhuyễn cả 3 thứ, xào nóng với dấm, để âm ấm đắp vào lưng chỗ đau, băng chặt lại mỗi tối trước khi ngủ, sáng mở ra, liên tục 5 – 10 ngày.  
Đồng thời kết hợp dùng phương thuốc uống gồm có: Toàn cây mảnh cộng 12g, dây trâu cổ 12g, dây tơ hồng xanh 10g, đậu đen (sao thơm) 12g, ba kích nhục 12g, cẩu tích 12g, đỗ trọng 12g, đương quy 12g, thục địa (chế) 16g, tang ký sinh 16g.
Sắc với 1.200ml còn 300ml chia 2 – 3 lần uống trong ngày sau bữa ăn. Khi uống thuốc cử ăn măng. Dùng toa này 5 – 15 ngày.
Nguồn gốc tên Cây bìm bịp ở Việt Nam:
Tìm hiểu tại sao có tên cây bìm bịp thì được các bác cao tuổi ở miền Đông Nam Bộ kể rằng: Khi bìm bịp con mới nở, người ta bẻ gãy chân, thì thấy chim mẹ cắn lá cây này về đắp chim con cho lành xương nên có tên gọi như trên. Không biết thực hư thế nào nhưng rõ ràng đã có tên gọi và một số tác dụng liên quan đáng được chú ý. Nếu đúng như vậy thì đây là một loại rau vừa có vị thuốc quý!
Theo các bài báo mới đây thì cây bìm bịp có tác dụng hỗ trợ bệnh ung bướu

Vị thuốc quý: Cây bìm bịp là gì?

Cây bìm bịp (tên khoa học là Clinacanthus nutans, có tên khác là xương khỉ, mảnh cộng). Đây là loại cây nhỏ, mọc thành bụi, có thể cao tới 3m. Lá nguyên, cuống ngắn, lá mặt hơi nhẵn, màu xanh thẫm. Cây được mọc hoang khá phổ biến ở rất nhiều vùng nông thôn Việt Nam và Châu Á. Hoa màu đỏ hay màu hồng, rủ xuống ở ngọn; tràng hoa có hai môi, môi dưới có 3 răng; bao phấn vàng xanh, quả hình trùy dài khoảng 1,5cm, cuống ngắn, chứa 4 hạt.
Tên khác: Bìm bịp, Xương khỉ
Tên khoa học: Clinacanthus Nutans (Burn f) Linlau
Vị thuốc quý: Cây bìm bịp là gì?(Tâm sự gia đình)

Mô tả cây: Cây nhỏ, mọc trườn. Lá nguyên, có cuống ngắn, phiến hình mác hay thuôn, mặt hơi nhẵn, mép hơi giún, màu xanh thẫm. Bông rủ xuống ở ngọn. Lá bắc hẹp. Hoa đỏ hay hồng cao 3-5cm. Tràng hoa có hai môi, môi dưới có 3 răng. Quả nang dài 1,5cm, chứa 4 hạt.
Mùa hoa: xuân- hạ.  
Lá Cây Mảnh Cộng - Clinacanthus Nutans
Bộ phận dùng: Phần cây trên mặt đất - Herba Clinacanthi.
Nơi sống và thu hái: Loài cây của các nước á châu nhiệt đới (các nước Ðông Dương từ Thái Lan đến Malaixia) nam Trung Quốc. Mọc hoang ở hàng rào, bờ bụi nhiều nơi và cũng thường được trồng. Có thể thu hái cây lá quanh năm, dùng tươi hay phơi khô dùng dần.
Tính vị, tác dụng: Lá khô có mùi thơm. Cây có tác dụng điều kinh, tiêu thũng khu ứ, giảm đau và liều xương.
Công dụng, chỉ định và phối hợp: Lá non có thể dùng nấu canh ăn. Lá khô thường dùng để ướp bánh (bánh mảnh cộng). Lá tươi giã đắp chữa đau sưng mắt và đem xào nóng lên dùng bó trặc gân, sưng khớp, gẫy xương. Thường dùng phối hợp với Mò hoa trắng giã ra lọc lấy nước uống chữa bệnh lưỡi trắng của trẻ em. Nhân dân dùng cành lá đắp vết thương trâu bò húc.
Ở Hải Nam (Trung Quốc) người ta dùng cây lá làm thuốc trị dao chém thương tích và chữa thiếu máu, hoàng đản, phong thấp. Thường dùng cành lá khô sắc uống. Dùng ngoài, lấy lá tươi giã đắp
Ở Thái Lan, lá Cây bìm bịp tươi được dùng trị bỏng, sâu bọ đốt, eczema và mụn rọp.

Vị Thuốc: Bài thuốc chữa chứng phù do viêm thận với cây bìm bịp

Bìm bịp là loài cây mọc hoang nhiều ở các lùm cây, bụi cỏ được Đông y sử dụng như một vị thuốc chữa các bệnh về thận cho hiệu quả rất tốt. Đặc biệt, bài thuốc chữa viêm thận từ cây bìm bịp được đánh giá cao và được rất nhiều người bệnh áp dụng. Nếu đang gặp vấn đề với bệnh này, bạn có thể tham khảo tác dụng của bài thuốc này và áp dụng chữa bệnh cho mình nhé.
Vị Thuốc: Bài thuốc chữa chứng phù do viêm thận với cây bìm bịp(Tâm sự gia đình)

Bài thuốc chữa chứng phù do viêm thận từ cây bìm bịp

Trong Đông y, các thành phần của cây bìm bịp đều có tác dụng chữa bệnh, đặc biệt là hạt của nó. Hạt bìm bịp được Đông y gọi là khiên ngưu tử, có vị cay, tính nóng, hơi độc, đi vào 3 kinh là Thủ thái âm phế, túc thiếu âm thận và thủ dương minh đại tràng. Hạt bìm bịp có tác dụng tả thấp nhiệt ở khí phận, tiêu trừ đờm, lợi tiểu tiện, đại thông suốt, sát khuẩn tốt, chữa các chứng phù thũng, tiện bí, cước khí...
Bài thuốc chữa viêm thận từ cây bìm bịp
Chữa chứng phù do viêm thận:

Đối với những người mắc bệnh viêm thận có hiện tượng phù thì có thể sử dụng bài thuốc sau:
* Thành phần: Khiên ngưu tử 100g, táo tàu 80g, gừng tươi 500g.
* Thực hiện:
- Đem khiên ngưu tử nghiền thành bột mịn.
- Táo tàu hập chín rồi xẻ bỏ hạt, giã nhuyễn. Gừng giã nát vắt lấy nước.
- Cho tất cả các vị thuốc đã sơ chế trộn đều rồi đem hấp trong 1 giờ. Khi hấp được 30 phút thì trộn đều thuốc 1 lần.
* Cách dùng: Chia thuốc thành 8 lần. Mỗi ngày uống 3 lần vào buổi sang, trưa, chiều. Khoảng 5 ngày sẽ khỏi. Chú ý khiêng muối 3 tháng kể từ khi uống thuốc.
Chữa viêm thận mạn tính bằng Cây bìm bịp
* Thành phần: Khiên ngưu tử 80g, hồi hương 40g.
* Thực hiện: Đem các vị thuốc trên đây nghiền thành bột mịn rồi trộn đều với nhau. Cho thuốc vào lọ thủy tinh bảo quản dùng dần.
* Cách dùng: Mỗi ngày, người bệnh dùng 8g bột thuốc pha với nước sôi uống khi bụng đói. Uống liên tục khoảng 2-3 ngày sẽ chữa chứng trướng bụng do viêm thận rất hay. Ngoài ra, cách này còn có thể áp dụng với tình trạng bụng trướng do xơ gan cũng rất hiệu nghiệm.

Chúc bạn thực hiện thành công và chữa khỏi bệnh!

Vị thuốc: Tác dụng của cây mật gấu với sức khỏe

Cây mật gấu có rất nhiều tác dụng chữa bệnh như thanh nhiệt, giải độc, tiêu viêm, chữa kiết lỵ và một số bệnh về gan.
Lá cây mật gấu hay còn có tên gọi khác là lá cây mật gấu Nam Bộ, cây Săm gan, cây lá đắng, cây kim thất tai. Cây mật gấu có thân mềm, nhỏ và thuộc dạng bụi khác với cây mật gấu miền Bắc có thân gỗ. để phân biệt với cây mật gấu miền Bắc, là thân gỗ. 
Lá cây mật gấu không dày nhưng phần viền có răng cưa lá hơi dày, đường kính của cây mật gấu từ 2-4cm. Phần cuống lá dài khoảng tầm 2cm, lá dài và to, đầu lá nhọn hơi tù, hoa của cây tụ thành cụm ở đầu cành. Mặt lá nhẵn bóng khi lá bắt đầu già.

Vị thuốc: Tác dụng của cây mật gấu với sức khỏe (Tâm sự gia đình)

Công dụng của cây mật gấu
Theo Đông y, lá có vị đắng nhưng khi ăn một lúc rồi sẽ rất ngọt, dễ chịu. Cây mật gấu có công dụng như một vị thuốc quý từ xưa người dân đã hay dùng như thanh nhiệt, giải độc,… Cũng chính vì vị đắng như mật gấu của nó mà hình thành nên tên gọi. 
Trong y học hiện đại, các thành phần của cây mật gấu có các chất như rabdoserrin A, excisanin A, 2α-hydroxyl-ursolic acid, glucoside,… 
Mật gấu có tác dụng ức chế đối với một số tế bào ung thư
Theo một số nghiên cứu trên động vật thí nghiệm thì trong cây mật gấu chứa các chất rabdoserrin A và excisanin A có tác dụng ức chế nhất định đối với sự phát triển của tế bào ung thư, đặc biệt là ung thư tử cung.
Cây mật gấu có tác dụng tốt cho tiêu hóa, trị đau xương tê thấp
Cây mật gấu có tác dụng hỗ trợ điều trị các bệnh về dạ dày, rối loạn tiêu hóa đồng thời chữa đau nhức xương khớp, tê thấp. 
Cây mật gấu có tác dụng mát gan, giải độc, tiêu mỡ
Người ta thường dùng rễ và thân sắc uống hoặc phối hợp với các vị thuốc khác để chữa kiết lỵ, viêm ruột, tiêu chảy, viêm gan vàng da, mắt đau sưng đỏ. Bên cạnh đó, cây mật gấu còn được dùng để chữa sốt cơn, ho lao, khạc ra máu, đau mỏi lưng, đầu gối, chóng mặt, ù tai, mất ngủ..
Cây mật gấu có tác dụng phòng chữa sỏi mật
Cây mật gấu giúp giảm đau lưng và khớp, có thể giúp cơ thể tiêu mỡ, người bị viêm đại tràng mau chóng có cảm giác nhẹ bụng, giảm đau và chữa bệnh gút.
Lá cây mật gấu có công dụng trị tiểu đường
Ngoài việc trị đau nhức xương khớp thì lá mật gấu còn có tác dụng hạn chế những biến chứng của bệnh tiểu đường và làm giảm lượng đường trong máu.
Cây mật gấu ngâm rượu có tác dụng chữa bệnh đau xương khớp
Cây mật gấu rửa sạch đem chẻ nhỏ vừa với bình ngâm sau đó phơi khô. Sau đó đem ngâm rượu, một thời gian sau rượu chuyển màu vàng uống để điều trị các triệu chứng về rối loạn tiêu hoá, đường ruột, đau nhức xương khớp, tê thấp, ngâm với rượu có tác dụng rất tốt.

Vị Thuốc: Cách sử dụng cây mật gấu chữa bệnh hiệu quả

Ngâm rượu:
Cây mật gấu còn được dùng phổ biến để ngâm rượu. Cây này rửa sạch rồi chẻ nhỏ ra đủ kích cỡ lọt bình ngâm là được (bằng ngón tay), phơi khô, trước khi ngâm vào rượu trong bình mình có điều kiện rửa qua bằng rượu là tốt nhất, rượu ngâm sau 1 thời gian chuyển sang màu vàng tùy đậm đặc mà màu rượu vàng mức độ nào, tùy độ đặc mà người uống khi rót rượu từ bình ra khi uống có thể pha thêm rượu ở ngoài, điều trị các triệu chứng về rối loạn tiêu hoá, đường ruột, tê thấp, ngâm với rượu có tác dụng rất tốt.
 Vị Thuốc: Cách sử dụng cây mật gấu chữa bệnh hiệu quả(Tâm sự gia đình)

Cách Ngâm: Chuẩn bị: tỷ lệ 2 lít rượu ngâm với 0.2 kg rễ (hoặc thân) cây mật gấu
Bước 1: Rễ (thân) cây mật gấu được rửa sạch, chẻ nhỏ sao cho có thể cho vừa bình ngâm rượu, đem phơi khô.
Bước 2: Cho rượu và rễ (thân) cây mật gấu vào trong bình ngâm, sau khoảng 15 ngày đến 1 tháng là có thể đem ra dùng được. Rượu có màu vàng rất đẹp, màu sắc đậm, nhạt tùy thuộc vào số tỷ lệ cây mật gấu trên số lượng rượu dùng để ngâm. Rượu uống có vị đắng, nhưng uống quen rất thích. Nếu rượu đậm quá có thể pha thêm rượu để dùng.
Sắc nước uống:
​Cắt lát nhỏ, cho vào nồi đun sôi khoảng 15 phút, uống hàng ngày có tác dụng mát gan, giải độc và giã rượu.
Việc sắc cây mật gấu làm nước uống vừa đơn giản lại có nhiều tác dụng vì vậy thiết nghĩ có thể phổ biến thành thức uống hàng ngày hơn nữa lại có lợi cho sức khỏe.
Một số bài thuốc khác về Cây mật gấu:
Chữa viêm gan cấp tính kèm theo vàng da: Dùng cây mật gấu tươi 40-100 gram hoặc 20 – 50 gram khô, sắc nước uống thay trà trong ngày. Hoặc có thể phối hợp thêm diệp hạ châu ( cây chó đẻ) 12 gram, cỏ gà 15 gram cùng sắc nước uống.
Chữa viêm túi mật cấp tính: Dùng cây mật gấu tươi 40-100 gram hoặc 20 – 50 gram khô, có thể phối hợp thêm mộc thông 20 gram, chi tử (dành dành) 10 gram, nhân trần 8 gram cùng sắc nước uống.
Chữa bệnh lỵ: Dùng cây mật gấu tươi giã nát, chế thêm nước đã đun sôi, chắt lấy nước cốt, uống 2-3 lần trong ngày. Hoặc có thể dùng lá cây mật gấu, lá mua mỗi thứ 20 gram sắc lấy nước uống.
Chữa bí đái: Dùng lá cây mật gấu, xa tiền thảo (cỏ mã đề) mỗi thứ 15- 20 gram sắc lấy nước uống.

Thuốc: Cây mật gấu và công dụng chữa bệnh thần kỳ

Cây mật gấu hay còn gọi là (Hoàng liên ô rô, Mã hồ ) . Gỗ của thân và rễ có màu vàng nhạt, vị rất đắng như mật gấu, vì vậy mới có tên là cây mật gấu.
Cây mật gấu có thể cao 4 – 6m. Lá kép hình lông chim lẻ, mọc so le, dài 20 – 40 cm, mang 11 – 25 lá chét cứng không cuống, hình trái xoan hẹp, dài 6 – 10cm, rộng 2 – 4,5cm, gốc tròn, đầu lá nhọn như gai, mép có răng nhọn; gân chính 3. Lá kèm nhọn như hai gai nhỏ. Các cụm ho ở ngọn thân, mang nhiều hoa màu vàng nhạt; lá đài 9, xếp thành 3 vòng; cánh ho 6, có tuyến ở gốc; nhị 6; bầu hình trụ. Quả thịt, hình trái xoan, đường kính khoảng 1cm, đầu quả có núm nhọn, khi chín màu xanh nâu, chứa 3 – 5 hạt. Mùa hoa: tháng 2 – 4, quả: tháng 5 – 6.
Thuốc: Cây mật gấu và công dụng chữa bệnh thần kỳ(Tam su gia dinh)


Ở Việt Nam, Cây mật gấu mọc hoang, thường gặp ở một số tỉnh vùng núi cao và mát như Cao Bằng, Lào Cai (Phan Si Pan), Lai Châu, Bắc Kạn, Lâm Đồng (Lang Bian)…. Ngoài ra, còn có ở nhiều nước châu Á như Trung Quốc, Nepal, Ấn Độ… Người ta dùng lá, thân, rễ và quả để làm thuốc. Thân và lá thu hái quanh năm, rửa sạch, phơi khô. Gỗ của thân và rễ có màu vàng nhạt.
Công dụng của cây mật gấu
Cây mật gấu có tác dụng rất tốt trong việc điều trị các triệu chứng về bệnh rối loạn tiêu hoá, đường ruột, đau nhức xương khớp, tê thấp. Tác dụng mát gan, phòng và chữa sỏi Mật, giảm đau lưng và thấp khớp, tăng cường sức khoẻ… Đặc biệt sản phẩm có tác dụng tiêu mỡ, viêm đại tràng, giã rượu, dùng lâu dài có tác dụng chữa bệnh béo phì và bệnh Gút – những căn bệnh rất phổ biến trong đời sống hiện đại.
Cách sử dụng Cay mat gau
Ngâm rượu:
Cây mật gấu còn được dùng phổ biến để ngâm rượu. Cây này rửa sạch rồi chẻ nhỏ phơi khô, trước khi ngâm vào rượu trong bình
mình có điều kiện rửa qua bằng rượu là tốt nhất. Rượu ngâm sau một thời gian chuyển sang màu vàng, vị đắng, tùy độ đặc mà người uống khi có thể pha thêm rượu.
Sắc uống:
Cắt lát nhỏ, cho vào nồi đun sôi khoảng 15 phút, uống hàng ngày có tác dụng mát gan, giải độc và giã rượu. Việc sắc cây mật gấu làm nước uống vừa đơn giản lại có nhiều tác dụng vì vậy thiết nghĩ có thể phổ biến thành thức uống hàng ngày hơn nữa lại có lợi cho sức khỏe.
Tránh ngâm cây mật gấu với thuốc khác

không nên ngâm chung cây thuốc này với các loại cây vị thuốc khác. Ngoài ra, cây chưa được kiểm chứng khoa học nên người dân không nên dùng nhiều và bừa bãi nước, rượu được ngâm từ cây này dù có thể trước mắt chưa thấy ảnh hưởng bởi các độc tố.  

Thuốc: Bài thuốc hỗ trợ trị ung thư phổi giai đoạn cuối

Câu chuyện mà tôi kể như sau : Cách đây 3 tháng , bố đẻ chị dâu mình bị căn bệnh ung thư phổi , đi lên bệnh viện K Hà Nội và được chuẩn đoán là ung thư , sau khi được chuẩn đoán là ung thư cũng đã dùng phương pháp hóa trị liệu để điều trị với hy vọng kéo thêm thời gian , sau thời gian dùng trị liệu , tóc rụng nhiều , người gầy , mệt mỏi và chán ăn .
Thuốc: Bài thuốc hỗ trợ trị ung thư phổi giai đoạn cuối(Tâm sự gia đình)

Cây cỏ xước là một trong vi thuốc trong bài thuốc này
Lúc ấy cô hàng xóm nhà mình đã sang hỏi chuyện và kể câu chuyện hôm trước đi lễ chùa ở Bái Đính và gặp chị này , chị kể trước đây chị bị ung thư phổi và giai đoạn nặng , bệnh viện gần như bất lực và gặp anh cũng bị ung thư uống thuốc lá này khỏi hẳn , đi khám lại các tế bào ung thư trong máu không còn và khối u giảm hẳn , sau thời gian điều trị đã khỏe , nghe vậy gia đình chị mừng lắm cũng hỏi địa chỉ bà ở Đồ Sơn và đến cắt thuốc về uống , sau 3 tháng thấy tiến triển rõ ràng , người ăn được , ngủ được và đi khám lại cũng mất tế bào ung thư … Chị ấy gần nhà mình , đi dò hỏi mãi cuối cùng cũng biết đó là chị gái anh Văn .
Sau khi có địa chỉ rồi đi cắt thuốc về uống mỗi ngày 1 thang , sau 3 tháng , hôm qua là ngày bệnh viện thông báo trong máu mất tết bào ung thư , khối u trước khi uống thuốc là 6 -7 phân nay giảm xuống thấp hơn rất nhiều, đúng là sự bất ngờ với gia đình .
Mình chưa có điều kiện để đưa đầy đủ thông tin về loại thuốc này , nhưng mình cũng đưa ra 7 vị thuốc này , mình nghĩ nhiều người biết nó hơn mình nhiều , còn để biết rõ hơn thì mình áp sau nhé :
7 vị thuốc ấy là :
1 -Bông mã đề .
2_ Bồ công anh .
3- Lá mặt trời .
4_ Lá Vẩy ốc .
5_Lá ba ngạc .
6_ Lá nhọ nồi .
7_ Lá cỏ xước .
Các loại thuốc này đều được vặt về rửa sạch rồi đem phơi khô hoặc xao khô và sắc nước uống .
Mỗi ngày bạn lấy 1 nắm thuốc, sắc với nước uống, có thể uống thay nước hàng ngày để trị bệnh Ung thu phoi giai doan cuoi
Hy vọng bài thuốc này sẽ mang lại nhiều hy vọng mới cho sức khỏe cộng đồng